Lợi ích của phân hữu cơ – vi sinh là gì và tại sao phải dùng nó?
Có bao giờ chúng ta liên tưởng đến hệ sinh thái rừng và suy nghĩ rằng “tại sao ở rừng không cần bón phân mà cây cối ở đó vẫn sum suê và um tùm hay không”! Bởi vì ở đó mật độ vi sinh vật rất đa dạng cùng hàm lượng mùn (hữu cơ) cực kỳ lớn
.
Mật độ vi sinh vật hữu ích sẽ được duy trì nhờ hàm lượng mùn (hữu cơ) có trong đất rừng tự nhiên và những hợp chất dinh dưỡng hữu cơ ở rễ cây tiết ra. Xin lưu ý rằng thực vật nói chung chỉ hấp thụ qua rễ đa phần là khoáng và một lượng rất nhỏ hợp chất hữu cơ (có trọng lượng phân tử thấp) nếu chúng đã được khoáng hóa. Vậy có nghĩa là: mùn như nguồn thức ăn cho hệ vi sinh vật sinh sôi nảy nở. Nhờ đó hệ vi sinh vật này sẽ tạo ra các khoáng có ở trong đất, đá, bã thực vật là nguồn dinh dưỡng cho cây rừng; cùng các hợp chất sinh học có lợi cho cây rừng. Như thế vi sinh vật là đối tượng trung gian cực kì quan trọng trong việc hỗ trợ cây rừng trong quá trình sinh trưởng và phát triển; cũng như giúp cây rừng chống đỡ các ảnh hưởng từ môi trường hay nguồn bệnh.
Do cuộc “cách mạng hóa học” vào những năm của thế kỷ trước mà con người đã lạm dụng những sản phẩm từ hóa học quá mức trong canh tác nông nghiệp. Dẫn tới việc đã tiêu diệt luôn hệ vi sinh vật hữu ích, cộng thêm hành động giảm lượng phân hữu cơ. Đó là một hệ lụy mà ngày nay chúng ta phải thay đổi triệt để phương thức canh tác cũ.
Chúng ta có thể tự tạo ra phân hữu cơ cho vườn cây của mình bằng cách ủ compost các loại phân gia súc và các phụ phẩm nông nghiệp với nhau để có được hàm lượng hữu cơ cho đất. Từ nguồn “thức ăn” hấp dẫn này, đất canh tác sẽ tự thu hút được hệ vi sinh vật có lợi hoặc bà con có thể bổ sung thêm từ các sản phẩm thương mại có trên thị trường. Sự đa dạng hệ vi sinh vật hữu ích cùng lượng hữu cơ nhiều tự đất sẽ điều chỉnh pH lân cận trung tính – không cần bón thêm vôi; thoáng khí giúp các quá trình sinh học xảy ra ở vùng rễ tốt hơn – không cần vun xới; chính nhờ thoáng khí và pH trung tính sẽ giúp giảm mật độ sinh vật có hại nhưng tăng các sinh vật có lợi như trùn đất, giáp xác đất….
-Nhóm nguyên tố đa lượng: N, P, K (Nito, Photpho, Kali)
-Nhóm nguyên tố trung lượng: Ca, Mg, S (Canxi, Magie, Lưu huỳnh)
-Nhóm nguyên tố vi lượng: Na, Fe, Al, Mn, Cu, Zn (Natri, Sắt, Nhôm, Mangan, Đồng, Kẽm
Tỷ lệ dưỡng chất trong phân bón của từng nguyên tố:
Nhóm nguyên tốt đa lượng: Nito là loại dinh dưỡng quan trọng nhất, có tác dụng làm cây xanh tốt, sinh trưởng chiều cao và khối lượng thân lá, hình thành hoa quả, mầm chồi... Photpho có tác dụng tốt cho việc ra rễ, ra hoa... Kali có tác dụng tốt cho việc tổng hợp đường bột, xellulo, làm cây cứng cáp, giúp trái lớn nhanh, hạt mẩy, tăng độ ngọt và màu sắc trái.
Nhóm trung và vi lượng là các yếu tố tương hỗ, giúp hình thành nên các hợp chất sinh học và các bộ phận có các chức năng riêng biệt và tác động qua lại để tạo thành sự sống một cách rất phức tạp.
Đặc biệt dưỡng chất canxi có trong xương cá đóng vai trò kích thích rễ cây phát triển, giúp hình thành các hợp chất tạo nên màng tế bào, làm cho cây trở nên cứng cáp hơn.
Các thành phần trong Rapid Hydro được giữ lại như Ni-tơ (N), Phốt pho (P), Kali (K) Lipid (chất béo), đều ở dạng tự nhiên giúp cây dễ hấp thụ và phân hủy nhanh trong đất. Phân bón Rapid Hydro chứa nhiều yếu tố đinh dưỡng giúp cây tăng trưởng và phát triển nhanh.
Phân sinh học Rapid Hydro (phân bón sạch tăng trưởng nhanh)
Phân bón tăng trưởng nhanh Con cá Rapid Hydro - một sản phẩm của nhà sản xuất uy tín Rapid Growth Nutrients Company- Hoa Kỳ
Với thành phần sinh học, được chiết xuất 100% từ cá biển Bắc thái bình dương, Rapid Hydro chứa 92 loại khoáng chất, vi lượng hoàn hảo cho cây trồng và đất.
Được kiểm tra, khảo nghiệm bởi Cục trồng trọt – Bộ NN&PTNT, Con cá Rapid Hydro cho kết quả hoàn toàn phù hợp với thổ nhưỡng, khí hậu, điều kiện canh tác cũng như các loại cây trồng tại Việt Nam.
Con cá Rapid Hydro có những ưu điểm sau:
§Thành phần 100% hữu cơ, không chứa hóa chất độc hại
§Ở dạng lỏng nên đất và cây trồng dễ dàng hấp thu.
§Giúp cây nảy mầm nhanh, cho năng suất cao hơn ( xấp xỉ 20%)
§Góp phần cải tạo, bổ sung chất dinh dưỡng cho đất canh tác (hiệu quả với các loại đất mùn, sét, cát hoặc đất bạc màu, nhiễm nhiều phân hóa học hay thuốc bảo vệ thực vật)
§Phù hợp với tất cả các loại cây trồng (lúa, hoa màu, cây ăn quả, cây công nghiệp)
§Hỗ trợ, thúc đẩy vi sinh vật phân hủy cây trồng còn lại sau thu hoạch
§Dễ sử dụng, dễ hòa tan (có thể sử dụng như phân trộn trong thời kỳ ủ đất hoặc trong mọi chu kỳ phát triển của cây)
Hướng dẫn sử dụng:
Với cây trồng trong vườn nhà:
·Chuẩn bị đủ lượng phân bón cho 01 lần sử dụng.
·Pha với nước theo tỷ lệ tối thiểu: 1 lít phân bón/ 32 lít nước
·Không lưu trữ sản phẩm đã pha loãng
·Thời gian sử dụng mỗi lần cách nhau từ 2-3 tuần
Với cây trồng dưới nước:
Do nhu cầu dinh dưỡng của các loại cây trồng dưới nước khá phức tạp, bà con lưu ý việc bón phân còn phụ thuộc vào mỗi loại cây trồng cũng như các giai đoạn phát triển khác nhau.
·Khu vực rễ (bón rễ): 1 lít phân pha với 38-76 lít nước
·Khu vực lá (bón lá): với liều lượng tương tự bón rễ nhưng sử dụng dụng cụ phun sương vào lá (chu kỳ 1-3 tuần, trong suốt quá trình phát triển)
·Có thể sử dụng trước hoặc trong khi cây nở hoa và bắt đầu kết trái.
Với các loại cây trồng khác:
·Dành cho bón lá: định mức 1 lít sản phẩm/ 53-71m2 đất canh tác
·Dành cho bón rễ trên đất: 1 lít sản phẩm/21-30m2 đất canh tác
Lưu ý:
·Phát huy hiệu quả tối đa khi dùng kết hợp với Con cá Rapid Hydro Nereo
·Không tồn trữ sản phẩm sau khi đã pha với nước
·Để xa tầm tay trẻ em, uống nhiều nước hoặc tìm cách nôn (ói) nếu không may nuốt phải sản phẩm.
Phân bón hữu cơ Rapid Hydro đã được Bộ Nông Nghiệp VN cấp phép và khuyến khích sử dụng
Mọi Chi Tiết Xin Liên Hệ:
Tel :0967 646 009 (Mr Nam) Đại Diện Trực Tiếp Từ Nhà Sản Xuất Của Hoa Kỳ Tại Việt Nam
Làm gì để nông sản Việt Nam có thương hiệu quốc gia? Có thể nói rất ít các thương hiệu nông sản của Việt Nam được quốc tế biết đến và đây chính là bất lợi lớn cho nông sản hàng hóa của chúng ta khi xuất ra nước ngoài.
Bốc xếp mặt hàng gạo xuất khẩu sang thị trường Philippines tại cảng Nhà Bè. (Ảnh: Đình Huệ/TTXVN)
Mặc dù chất lượng gạo, trái cây của Việt Nam không thua kém gì hàng của Thái Lan, Ấn Độ, Đài Loan… nhưng giá trị hàng nông sản của ta lại thấp hơn. Vì vậy, vấn đề xây dựng thương hiệu cho nông sản của Việt Nam đang đòi hỏi bức thiết với người dân.
Chưa tạo được thương hiệu quốc gia
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất giàu tiềm năng và lợi thế, dẫn đầu cả nước về sản lượng lúa gạo, thủy sản xuất khẩu và là vùng sản xuất nhiều loại trái cây nổi tiếng. Tuy nhiên, việc không có thương hiệu riêng khiến nhiều sản phẩm chủ lực của vùng chỉ ở dạng tiềm năng, sức cạnh tranh kém… Nghịch lý này tồn tại nhiều năm khiến giá trị nông sản mang lại chưa cao.
Các chuyên gia kinh tế cho rằng, thương hiệu chiếm 40-60% giá trị của một sản phẩm hoặc dịch vụ. Chương trình thương hiệu quốc gia được đặt ra từ năm 2003, các địa phương, doanh nghiệp cũng đã quan tâm hơn đến việc xây dựng và phát triển thương hiệu.
Chẳng hạn như về sản phẩm gạo có gạo Ngọc Đồng của doanh nghiệp Gentraco, Hương Lúa của Công ty ITA Rice, gạo Hoa Sữa của Công ty Viễn Phú hay khoai lang Bình Tân (Vĩnh Long) được cấp chứng nhận nhãn hiệu hàng hóa tập thể…
Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một thương hiệu vùng miền trong chiến lược thương hiệu quốc gia, khiến nhiều sản phẩm, lợi thế vẫn chỉ ở dạng tiềm năng.
Vì vậy, cần định danh rõ ràng từng thương hiệu gạo, trái cây, thủy sản của vùng Đồng bằng sông Cửu Long vào Chương trình thương hiệu quốc gia của Chính phủ để quảng bá hình ảnh đất nước, tiếp cận hiệu quả với thị trường xuất khẩu, kể cả thị trường trong nước.
Ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ cho rằng đối với sản phẩm lúa gạo của Việt Nam dù chiếm hơn 20% thị trường xuất khẩu gạo thế giới với chất lượng tốt, nhưng cả nước vẫn chưa có những thương hiệu gạo Việt mạnh mà chỉ định hình trong “chiếc áo” của tên gọi ở nước ngoài như Jasmine hoặc những cái tên 5% tấm, 25% tấm…
Vì chưa có thương hiệu gạo mang tính quốc gia nên giá xuất khẩu bình quân thấp hơn giá xuất khẩu của các nước trong khu vực như Ấn Độ, Thái Lan trên dưới 10 USD/tấn. Điều đó đặt ra vấn đề xây dựng và phát triển thương hiệu gạo gắn với vùng miền Đồng bằng sông Cửu Long.
Vấn đề phát triển gạo hiện nay không còn là vấn đề tăng sản lượng hay nói cách khác không phải sản xuất ra vì “chén cơm đầy” mà phải là “chén cơm ngon” để tạo ra giá trị từ hạt gạo cũng như tăng thu nhập cho người nông dân.
Trong khi đó, thương hiệu gạo Nàng thơm Chợ Đào (xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước, tỉnh Long An) là một loại gạo đặc sản nổi tiếng, được Cục Sở hữu trí tuệ cấp độc quyền nhãn hiệu hàng hóa từ tháng 10/2005 đang phải đối mặt với nguy cơ mất thương hiệu trên thị trường.
Bởi đây là giống lúa đặc biệt chỉ trồng ở xã Mỹ Lệ, với diện tích canh tác lúa Nàng thơm Chợ Đào khoảng 400ha và đặc trưng thổ nhưỡng nên mỗi năm nông dân chỉ có thể làm ra 2.400 tấn lúa, tương đương 1.200 tấn gạo.
Nhưng thực tế hiện nay loại gạo đặc sản này đang được cung ứng khắp nơi và bày bán quanh năm trên thị trường, khiến chất lượng bị xuống cấp nghiêm trọng, nông dân lo lắng.
Trước tình hình này, Ủy ban Nhân dân tỉnh Long An đã ủy quyền cho Sở Khoa học công nghệ tổ chức xác lập quyền chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm gạo Nàng thơm Chợ Đào đến tháng 12/2015 sẽ hoàn chỉnh và nộp hồ sơ lên Cục Sở hữu trí tuệ.
Xây thương hiệu trên nền tảng sản phẩm chất lượng cao
Theo ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế (Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ), việc xây dựng và phát triển thương hiệu phải bắt đầu từ doanh nghiệp, việc xây dựng thương hiệu nổi lên vai trò của “bốn nhà” trong quá trình đó, cần phải thấy rằng Nhà nước hoạch định chính sách là hết sức quan trọng, với những quy định của pháp luật và bảo vệ thương hiệu để hỗ trợ cho việc xây dựng và phát triển thương hiệu Việt.
Tuy nhiên, Nhà nước không thể làm thay doanh nghiệp, các nhà khoa học cũng rất quan trọng trong việc tạo ra những giống mới, đưa vào những quy trình sản xuất, những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong việc sản xuất, hay bảo quản chế biến nông sản.
Người nông dân là tác giả quan trọng tạo ra hạt gạo nhưng với tình trạng sản xuất manh mún như hiện nay rất khó trong việc tự mình xây dựng thương hiệu, điều đó đặt ra vai trò của doanh nghiệp là gắn đầu ra của xuất khẩu với thị trường trong nước, bởi doanh nghiệp hiểu hơn ai hết những yêu cầu, những tín hiệu thị trường.
Trước đòi hỏi về chất lượng nông sản của thị trường thế giới, thời gian gần đây, các địa phương trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã bắt đầu quan tâm đến việc xây dựng vùng sản xuất chất lượng gắn với việc xây dựng thương hiệu.
Theo bà Lê Thị Tú Anh, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Nông nghiệp GAP, có hai vấn đề được đặt ra khi bàn đến chất lượng hạt gạo Việt Nam đó là dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và phẩm chất của hạt gạo.
Để nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam cần canh tác lúa để đảm bảo không tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, đồng thời hạn chế các giống lúa phẩm chất thấp thay vào đó là các giống lúa có phẩm chất cao, thơm dẻo hơn.
Muốn vậy, phải thay đổi tư duy của người nông dân bằng cách định hướng trồng trọt (trồng giống lúa gì, sử dụng phân thuốc ra sao) và quan trọng nhất là phải bao tiêu đầu ra cho nông dân, đảm bảo thu nhập.
Cũng với suy nghĩ làm sao nâng cao giá trị hạt gạo địa phương để vươn ra thị trường thế giới, doanh nghiệp tư nhân Cỏ May (Đồng Tháp) đã nghĩ đến việc tạo ra nhãn hiệu, hình ảnh đặc trưng riêng cho từng sản phẩm.
Cỏ May đã đầu tư 5 triệu USD cho dự án này bao gồm xây dựng nhà máy chế biến mới được xem là hiện đại nhất hiện nay với quy trình đạt chuẩn HACCP (chứng chỉ nghiêm ngặt về Vệ sinh an toàn thực phẩm).
Trong nhà máy này có hệ thống máy tách màu để loại bỏ những hạt gạo không đủ tiêu chuẩn trước khi đóng gói. Đồng thời, đầu tư chi phí cũng như hỗ trợ nông dân sử dụng bộ giống thuần chủng để canh tác trên những cánh đồng lớn, áp dụng biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến để cải thiện năng suất và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Nhờ đó mà hiện tại các sản phẩm mới theo mùa mang thương hiệu Nosavina với nhãn hàng đặc trưng như Lài-Đông Xuân, Sen-Hè Thu, Cúc-Thu Đông đang được tiêu thụ mạnh tại Thành phố Hồ Chí Minh và được triển khai sang thị trường Singapore và định hướng sang các thị trường tiềm năng Malaysia, châu Mỹ, châu Âu.
Theo ông Hồ Minh Khải, Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Nông nghiệp Cờ Đỏ, công ty có hệ thống sản xuất lúa nguyên chủng tập trung với diện tích 50ha, hàng năm có khả năng sản xuất từ 500-600 tấn lúa giống nguyên chủng.
Công ty hiện đang hợp tác với Trường Đại học Cần Thơ ứng dụng công nghệ điện di protein trong việc phục tráng, chọn lọc các giống lúa thơm đặc sản như Jasmine 85, VD20; hợp tác với Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long nhân các giống lúa OM đầu dòng có triển vọng.
Đặc biệt, công ty tổ chức sản xuất lúa nguyên chủng, xác nhận trong vụ Đông Xuân sau đó đóng kín tồn trữ trong bao PE để cung cấp vụ sau.
Với mô hình tổ chức sản xuất lúa của công ty từ đầu vào đến ra mà phần lớn là sản xuất lúa thơm Jasmine, với bà con hợp đồng viên mức lợi nhuận sau khi trừ chi phí đạt 30-50%.
Cụ thể, năm 2010-2014 năng suất bình quân cả năm là 12,5 tấn/ha, lợi nhuận từ 36-45 triệu đồng/ha/năm./.
Thực phẩm hữu cơ - Sau một thời gian sử dụng rau hữu cơ thì khách hàng thường có cảm giác rau hữu cơ ngon hơn, vị đậm hơn các loại thực phẩm khác.
Có nhiều khách hàng “tinh tế” đến mức hễ ăn rau thường (mặc dù không trực tiếp mua, không trực tiếp chế biến, chỉ cảm nhận bằng vị giác) là phát hiện ra ngay. Có người cho rằng đó chỉ là “tâm lý”, cảm giác an toàn hơn, ít lo lắng hơn thì sẽ thấy rau hữu cơ “ngon hơn”. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu được thực hiện từ năm 2005 đến 2007 bởi Ts.Trịnh Khắc Quang và Th.s Vũ Thị Hiển thuộc Viện Nghiên cứu Rau quả thì việc người tiêu dùng cảm nhận rau hữu cơ “ngon hơn, đậm hơn” là hoàn toàn có cơ sở khoa học.
DƯỚI ĐÂY LÀ KẾT QUẢ PHÂN TÍCH CÁC CHỈ TIÊU GIỮA 2 MẪU RAU, QUẢ:
Có thể thấy rằng hàm lượng dinh dưỡng của rau hữu cơ đều cao hơn mẫu thường mặc dù mẫu mã không đẹp. Các chỉ tiêu dư lượng hóa học đảm bảo an toàn thực phẩm đều thấp hơn so với mẫu rau thường, đặc biệt tồn dư Nitrate và Ecoli đều thấp hơn ngưỡng cho phép nhiều lần.
Từ đó có thể thấy, cảm giác “ngon hơn, đậm hơn” khi sử dụng rau hữu cơ hoàn toàn có cơ sở khoa học, không chỉ bắt nguồn từ yếu tố “tâm lý”.